DanhHang.comĐánh Hàng
Nhập môn đánh hàng ngoại

Thuật ngữ đánh hàng ngoại cho người mới: ri, lố, order, gom hàng, cân quy đổi

Giải nghĩa các từ người đánh hàng ngoại hay dùng ở chợ sỉ, khi gửi hàng, thanh toán và làm hải quan, kèm câu nên hỏi để không hiểu sai và mất tiền.

Two small traders seen from behind leaning over a hotel desk, one pointing at folded garment samples grouped in sets of five, the other holding a blank notepad, warm lamp light

Thuật ngữ đánh hàng là bộ từ người bán nhỏ dùng khi mua ở chợ sỉ (ri, lố, mẫu, hàng sẵn), khi gửi hàng (cân thực, cân quy đổi, gom hàng, kho trung chuyển), khi trả tiền (cọc, chốt đơn, phí chuyển đổi) và khi hàng qua hải quan (khai báo, phân luồng, kiểm tra chuyên ngành). Nhiều từ nghe quen nhưng mỗi chợ, mỗi bên vận chuyển hiểu một kiểu, nên người mới hay mất tiền vì tưởng hai bên đang nói cùng một chuyện.

Bài gom các từ theo năm nhóm, giải nghĩa ngắn và kèm câu nên hỏi lại để chốt cách hiểu. Phần cuối nói về những từ lóng nghe có vẻ tiện lợi nhưng thực chất là dấu hiệu rủi ro pháp lý. Các ví dụ là tình huống giả định, không gắn với chợ hay đơn vị cụ thể nào.

Nhóm 1: từ dùng khi mua ở chợ sỉ

Ở chợ sỉ Thái Lan, Hàn Quốc hay Đài Loan, người bán quen giao dịch theo bộ chứ không theo chiếc. Hiểu sai một chữ là mua thừa hoặc thiếu cả chục món.

TừNghĩa thường gặpCâu nên hỏi lại
RiMột bộ đủ các size của cùng một mẫu, cùng một màu (ví dụ S–M–L hoặc 1–2–3–4)Ri này gồm mấy size, mỗi size mấy chiếc?
LốMột lượng đóng gói theo thói quen của sạp: có nơi là chục, có nơi là tá, có nơi là cả baoMột lố ở sạp này là bao nhiêu chiếc?
Mẫu, mãMột thiết kế; một mẫu có thể có nhiều màuGiá sỉ tính theo mẫu hay theo màu?
Hàng sẵnHàng đang có trong kho của sạp, lấy được ngayHôm nay lấy được bao nhiêu ri?
Hàng đặt, hàng về sauSạp nhận đơn rồi mới làm hoặc nhập thêmBao lâu có hàng, có cần cọc không?
Mua tối thiểuSố lượng ít nhất để được giá sỉDưới số này thì tính giá nào?
Ôm mẫuLấy cả số lượng lớn một mẫu để độc quyền tạm thời trong khu vựcÔm thì có cam kết không bán cho người khác không?

Điểm hay vấp nhất là "lố" và "ri" không có chuẩn chung. Cách an toàn là ghi lại số chiếc cụ thể vào tin nhắn hoặc phiếu mua ngay tại sạp, kể cả khi người bán đã nói bằng lời. Khi về khách sạn kiểm hàng, bạn đối chiếu theo số chiếc chứ không theo số "lố".

Nhóm 2: từ chỉ nguồn gốc và loại hàng

Hàng nội địa. Hàng sản xuất để bán trong chính nước đó, nhãn và hướng dẫn bằng tiếng nước đó. Người bán Việt hay dùng cụm "nội địa Nhật", "nội địa Hàn" để chỉ hàng không làm riêng cho xuất khẩu. Cần biết: hàng nội địa không tự động tốt hơn, và nhãn tiếng nước ngoài khi bán ở Việt Nam vẫn phải có nhãn phụ theo quy định hiện hành.

Hàng order. Hàng chưa có sẵn, khách đặt và trả cọc, người bán mới đi mua. Chữ "order" ở Việt Nam dùng cho cả việc đặt qua bên trung gian lẫn việc người bán tự mua theo đơn khách.

Hàng xách tay. Hàng mang về trong hành lý của người đi máy bay. Đây là cách nói thông dụng, không phải một loại hàng pháp lý riêng; hàng mang về để bán vẫn là hàng thương mại và phải làm thủ tục tương ứng.

Hàng outlet, hàng xả. Hàng giảm giá ở cửa hàng xả của hãng hoặc cuối mùa: mẫu cũ, dư số lượng, đôi khi có lỗi nhỏ. Hỏi kỹ xem món đó có được bảo hành như hàng thường không.

Hàng tester, hàng mẫu thử. Hàng dùng để khách thử tại quầy, thường ghi rõ không để bán. Đem bán lại vừa thiếu minh bạch vừa dễ vướng nhãn hiệu.

Hàng tân trang, hàng mở hộp. Ở sàn Mỹ, châu Âu hay gặp các nhãn kiểu hàng đã qua tân trang hoặc hàng khách trả lại đã mở hộp. Khi bán lại phải nói rõ với khách, không gọi là hàng mới.

Hàng chính ngạch. Hàng nhập qua doanh nghiệp hoặc hộ kinh doanh có tờ khai hải quan, nộp thuế, có chứng từ. Đây là tiêu chuẩn mà shop nào lớn lên cũng phải hướng tới.

Nhóm 3: từ dùng khi gửi hàng về

Cân thực. Khối lượng đặt lên cân của cả kiện, gồm cả thùng và vật chèn.

Cân quy đổi, cân thể tích. Khối lượng tính ra từ kích thước kiện theo một hệ số chia do bên vận chuyển đặt. Bên vận chuyển lấy số lớn hơn giữa cân thực và cân quy đổi để tính cước, nên kiện nhẹ mà to thường đắt hơn bạn tưởng.

Gom hàng. Bên giao nhận gom kiện của nhiều người gửi thành một lô lớn, đi chung một vận đơn rồi tách ra khi về. Cước rẻ hơn chuyển phát nhanh, đổi lại phải chờ đủ lô.

Kho trung chuyển, kho nhận hộ. Một địa chỉ ở nước nguồn nhận hàng bạn mua trên sàn, cân đo, đóng gộp rồi gửi về. Hỏi kho có chụp ảnh từng đơn khi nhận không, và có giữ hàng miễn phí bao lâu.

Vận đơn, mã theo dõi. Vận đơn là chứng từ vận chuyển của lô; mã theo dõi là số dùng để tra trạng thái. Một lô gom có thể có vận đơn tổng và nhiều mã con, nên mã của bạn có lúc không cập nhật dù lô vẫn đi.

Phụ phí. Các khoản cộng ngoài cước chính: nhiên liệu, vùng xa, hàng đặc biệt (pin, chất lỏng), lưu kho. Khi so hai bảng cước, luôn so tổng sau phụ phí.

Chặng cuối. Đoạn giao từ kho ở Việt Nam tới tay bạn. Nhiều báo giá chỉ tính tới kho ở thành phố lớn, chặng cuối về tỉnh tính riêng.

Nhóm 4: từ dùng khi trả tiền và chốt đơn

Cọc là khoản trả trước để giữ hàng hoặc để người bán bắt đầu mua. Khi bạn là người đặt hàng với sạp ở nước ngoài, cọc thường không hoàn lại nếu bạn huỷ. Khi bạn nhận order của khách ở Việt Nam, cọc là tiền của khách đang nằm trong tay bạn, nên cần ghi rõ trường hợp nào hoàn, hoàn bao nhiêu và trong bao lâu.

Chốt đơn là lúc hai bên thống nhất mẫu, số lượng, giá và thời gian. Ở chợ sỉ, chốt đơn bằng lời rất phổ biến, nhưng với hàng đặt về sau thì nên chốt bằng tin nhắn có ảnh mẫu, số chiếc từng size và tổng tiền. Tỷ giá tạm tính là cách người làm order báo giá cho khách bằng tiền đồng trước khi biết chi phí chuyển đổi thật; nếu dùng cách này, hãy nói trước với khách là giá có thể chênh và chênh theo cách nào.

Phí chuyển đổi ngoại tệ là khoản ngân hàng hoặc tổ chức thẻ thu khi bạn thanh toán bằng đồng tiền khác. Khoản này thường không hiện ngay lúc quẹt thẻ mà chỉ thấy trên sao kê, nên người mới hay quên đưa vào giá vốn. Ứng tiền là khi người mua hộ hoặc người thân bỏ tiền ra trước rồi bạn trả sau; nhóm từ này tưởng nhỏ nhưng là nguồn tranh cãi lớn nếu không ghi lại ai ứng bao nhiêu, ngày nào, theo tỷ giá nào.

Nhóm 5: từ dùng khi hàng qua hải quan

Khai báo hải quan là việc kê khai hàng hoá với cơ quan hải quan: tên hàng, số lượng, trị giá, xuất xứ. Với hàng gửi qua chuyển phát, bưu chính hay gom hàng, việc khai thường do bên vận chuyển hoặc đại lý làm, nhưng thông tin gốc là do người gửi và người nhận cung cấp. Tờ khai là bản ghi chính thức của lần khai đó; người nhập hàng để bán nên xin và lưu lại.

Phân luồng là cách hải quan quyết định mức kiểm tra: luồng xanh thường được thông quan dựa trên hồ sơ, luồng vàng phải kiểm tra hồ sơ chi tiết, luồng đỏ phải kiểm tra thực tế hàng. Kiện bị phân luồng đỏ không có nghĩa là bạn làm sai, nhưng sẽ mất thêm thời gian. Trị giá tính thuế là giá trị làm căn cứ tính thuế, xây dựng từ giá thực trả cộng các khoản theo quy định hiện hành.

Kiểm tra chuyên ngành và công bố là các thủ tục do cơ quan quản lý ngành đặt ra cho một số nhóm hàng như mỹ phẩm, thực phẩm, đồ chơi trẻ em, đồ điện. Nhãn phụ là nhãn tiếng Việt dán thêm khi hàng nước ngoài được bán ở Việt Nam. Cả ba từ này nên hỏi rõ với hải quan nơi làm thủ tục hoặc đại lý khai báo trước khi mua, vì đó là chỗ người bán lô nhỏ hay vướng nhất.

Những từ lóng nên hiểu là tín hiệu rủi ro

"Bao thuế", "bao luật". Lời chào trọn gói nghe như một dịch vụ tiện lợi. Câu cần hỏi là hàng của bạn được khai dưới tên ai, khai là hàng gì, và bạn nhận lại chứng từ nào. Không có câu trả lời rõ thì rủi ro thu giữ, truy thu đổ về người có hàng.

"Đi tiểu ngạch", "đi line không giấy". Cách nói chỉ việc đưa hàng qua đường không có hồ sơ đầy đủ. Hàng có thể về nhanh, rẻ, nhưng không có gì để chứng minh nguồn gốc khi bị kiểm tra trên đường hay tại cửa hàng.

"Chia nhỏ cho nhẹ", "mỗi người cầm một ít". Đây là cách tách lô hàng buôn thành nhiều kiện hoặc nhiều hành lý cá nhân. Theo nguyên tắc chung, hải quan xét bản chất là hàng thương mại, nên cách làm này mang rủi ro bị xử lý chứ không phải mẹo.

"Auth", "rep", "F1", "loại 1". Các từ lóng về độ thật giả của hàng hiệu. Với người bán, chỉ có hai trạng thái có nghĩa: hàng chính hãng có chứng từ, và hàng không chứng minh được. Hàng nhái nhãn hiệu, dù gọi bằng chữ gì, đều có thể bị thu giữ và xử phạt.

"Hàng bãi", "hàng thùng". Thường chỉ quần áo, đồ dùng đã qua sử dụng nhập theo kiện. Hàng tiêu dùng đã qua sử dụng có quy định nhập khẩu riêng, nhiều loại bị hạn chế; hãy kiểm danh mục hiện hành trước khi đụng tới.

Dùng thuật ngữ cho đúng khi làm việc với người khác

Biết từ chưa đủ; cái giúp bạn không mất tiền là cách chốt nghĩa của từ trong từng giao dịch. Năm thói quen dưới đây áp dụng được ở mọi thị trường.

  1. Mỗi khi nghe một từ đo lường (ri, lố, kiện, khối), quy ngay ra số chiếc hoặc số ký và đọc lại cho bên kia xác nhận.
  2. Lập một tệp ghi chú "từ điển riêng" theo từng sạp, từng bên gửi hàng: sạp A một lố là bao nhiêu, bên gửi B tính cân quy đổi theo hệ số nào, kho C giữ hàng miễn phí mấy ngày.
  3. Khi báo giá cho khách order, tránh dùng từ lóng; viết rõ "giá đã gồm cước về tới kho ở Việt Nam, chưa gồm phí giao tận nhà" thay vì "giá đã bao ship".
  4. Với các từ liên quan pháp lý (khai báo, chính ngạch, công bố), đừng dựa vào cách hiểu trong nhóm bán hàng; hỏi trực tiếp hải quan nơi làm thủ tục hoặc đại lý khai báo và ghi lại câu trả lời.
  5. Khi một bên dùng từ nghe quá dễ dãi ("bao hết", "không lo gì"), coi đó là lúc phải hỏi thêm chứ không phải lúc yên tâm.

Ví dụ giả định: bạn đặt "mười lố" áo thun ở một sạp, tưởng mỗi lố mười chiếc, nhưng sạp hiểu một lố là một ri năm size. Kết quả bạn nhận năm mươi chiếc thay vì một trăm chiếc, mà tiền đã trả theo giá một trăm. Một dòng tin nhắn ghi số chiếc là đủ để tránh chuyện này.

Câu hỏi thường gặp

Ri và lố khác nhau thế nào?

Ri là một bộ đủ size của cùng một mẫu, cùng một màu; lố là đơn vị đóng gói theo thói quen của từng sạp, có thể là chục, tá hay một bao. Hai từ không có chuẩn chung giữa các chợ, nên luôn hỏi số chiếc cụ thể và ghi lại.

Hàng order và hàng xách tay có phải là một?

Không. Hàng order nói về cách bán: khách đặt trước, người bán mới đi mua. Hàng xách tay nói về cách đưa hàng về: trong hành lý người đi máy bay. Một món hàng order có thể về bằng đường gom hàng, còn hàng xách tay có thể là hàng bán sẵn.

Vì sao cùng một kiện mà hai bên gửi hàng tính hai mức cân khác nhau?

Mỗi bên có thể dùng hệ số chia thể tích khác nhau, làm tròn khác nhau và tính cân quy đổi cho từng kiện hay cho cả lô. Khi so cước, hãy đưa cùng một kích thước và khối lượng cho cả hai bên rồi so tổng tiền sau phụ phí.

Luồng đỏ có nghĩa là hàng của mình có vấn đề?

Không hẳn. Phân luồng dựa trên quản lý rủi ro, nên kiện có hồ sơ đúng vẫn có thể bị kiểm tra thực tế. Điều bạn cần là hồ sơ khớp với hàng thật: tên hàng, số lượng, trị giá, để khi kiểm tra không phát sinh thêm yêu cầu.

Nghe bên vận chuyển nói "bao thuế" thì nên hỏi gì?

Hỏi hàng được khai dưới tên ai, khai tên hàng gì và trị giá bao nhiêu, ai chịu khi hàng bị giữ hoặc truy thu, và bạn nhận được chứng từ gì sau khi hàng về. Nếu câu trả lời mập mờ, hãy chọn cách khác dù đắt hơn.

Có cần học tiếng nước nguồn để hiểu các thuật ngữ này không?

Không bắt buộc. Phần lớn thuật ngữ ở trên là cách nói của người bán Việt. Điều cần là thống nhất nghĩa với bên kia bằng con số và ảnh. Ở chợ, một máy tính bỏ túi và ảnh mẫu thường hiệu quả hơn vốn từ ít ỏi.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.