DanhHang.comĐánh Hàng
Nhập môn đánh hàng ngoại

Giá về tay hàng ngoại: cách tính đủ tám khoản và ví dụ giả định hàng Nhật, Mỹ

Giá về tay hàng ngoại gồm giá mua, phí sàn hoặc mua hộ, phí thẻ, cước, thuế, phí thủ tục, hao hụt và chi phí chuyến đi. Công thức từng bước kèm ví dụ giả định.

Over-the-shoulder view of a person at a kitchen table with a calculator, a kitchen scale holding a small parcel and a blank notepad, late afternoon amber light

Giá về tay là toàn bộ tiền bạn bỏ ra để một món hàng ngoại nằm trong kho của bạn ở Việt Nam, sẵn sàng bán: giá mua, phí sàn hoặc phí mua hộ, phí thẻ và chênh lệch ngoại tệ, cước vận chuyển, thuế và phí làm thủ tục khi hàng vào, phần hao hụt, hàng lỗi, và phần chi phí chuyến đi chia cho mỗi món. Thiếu một khoản là giá về tay thấp hơn thực tế và lãi trên giấy cao hơn lãi thật.

Bài trình bày công thức tám khoản, cách phân bổ những khoản tính cho cả lô xuống từng món, rồi đi qua hai ví dụ giả định: một lô đồ bếp đặt sàn Nhật và một lô giày gom từ outlet Mỹ. Mọi con số trong bài là ví dụ giả định để minh hoạ cách tính, không phải giá, cước hay thuế suất thật.

Tám khoản cấu thành giá về tay

Mỗi khoản dưới đây có thể to hay nhỏ tuỳ con đường bạn chọn, nhưng hiếm khi bằng không. Cột cuối nói cách phân bổ: tính theo món, theo giá trị hay theo cân.

KhoảnGồm những gìCách phân bổ xuống từng món
1. Giá muaGiá trên hoá đơn, kể cả thuế bán hàng ở nước nguồn nếu cóTheo đúng món
2. Phí sàn, phí mua hộPhí dịch vụ của người mua hộ, phí kho trung chuyển, phí ship nội địa nước nguồnTheo giá trị hoặc theo món, tuỳ cách bên kia tính
3. Phí thẻ và chênh lệch ngoại tệPhí chuyển đổi ngoại tệ của thẻ, phí chuyển tiền, chênh lệch giữa tỷ giá bạn dự tính và tỷ giá thực bị trừTheo giá trị
4. Cước quốc tếCước theo cân thực hoặc cân quy đổi, phụ phí nhiên liệu, phụ phí hàng đặc biệtTheo cân tính cước của từng món
5. Thuế và phí khi hàng vàoThuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng và các khoản khác theo quy định hiện hành, phí làm thủ tụcTheo giá trị, hoặc theo đúng dòng hàng trên tờ khai
6. Giao nội địa Việt NamTừ kho bên vận chuyển về chỗ bạnTheo cân hoặc chia đều
7. Hao hụt và hàng lỗiMón vỡ, thiếu, lỗi không bán được hoặc phải bán hạ giáTheo tỷ lệ dự phòng trên giá trị
8. Chi phí chuyến đi hoặc chi phí cố định khácVé, ở, đi lại, ăn, đóng gói, băng keo, thùngTheo giá trị hoặc chia đều

Hai khoản người mới hay quên nhất là khoản 3 và khoản 7. Phí chuyển đổi ngoại tệ trông nhỏ trên từng giao dịch nhưng áp lên toàn bộ tiền hàng; hao hụt thì luôn có, chỉ là bạn chưa gặp ở lô đầu.

Công thức tính từng bước

Cách tính dưới đây dùng được cho mọi thị trường. Bạn có thể làm trên giấy hay bảng tính, quan trọng là làm theo đúng thứ tự để không tính trùng hoặc bỏ sót.

  1. Quy giá mua về đồng Việt Nam theo tỷ giá mà thẻ hoặc ngân hàng thực sự áp cho bạn, không theo tỷ giá đọc trên mạng. Nếu chưa biết, hãy xem lại sao kê một giao dịch cũ để thấy tỷ giá và phí thực tế.
  2. Cộng phí phía nước nguồn: phí sàn, phí mua hộ, phí kho trung chuyển, ship nội địa nước đó.
  3. Cộng cước quốc tế theo cân tính cước của từng món, không chia đều cho mọi món nếu món nặng nhẹ chênh nhau nhiều.
  4. Cộng thuế và phí khi hàng vào theo thông tin bên làm thủ tục hoặc chứng từ thuế. Nếu chưa có chứng từ, ghi khoản dự tính và sửa lại khi có số thật.
  5. Cộng giao nội địa và chi phí cố định đã phân bổ.
  6. Nhân với hệ số hao hụt: ví dụ giả định dự phòng ba phần trăm thì nhân tổng với 1,03. Sau vài lô, thay tỷ lệ giả định bằng tỷ lệ thật của bạn.
  7. Đặt giá bán sao cho sau khi trừ phí sàn bán hàng trong nước, phí giao cho khách, quảng cáo, vẫn còn biên lãi đủ bù rủi ro tỷ giá và tồn kho.

Bước bảy không nằm trong giá về tay nhưng nên viết cùng chỗ, để mỗi lần nhìn giá về tay bạn thấy ngay còn bao nhiêu khoảng trống cho giá bán.

Ví dụ giả định 1: lô đồ bếp đặt sàn Nhật

Giả định bạn đặt hai mươi bộ dụng cụ bếp nhỏ trên một sàn Nhật, người bán không gửi quốc tế nên giao tới kho trung chuyển. Mỗi bộ có giá trên hoá đơn tương đương 300.000 đồng sau khi quy đổi theo tỷ giá thẻ (ví dụ giả định). Phí chuyển đổi ngoại tệ của thẻ giả định 2 phần trăm, tức 6.000 đồng mỗi bộ. Phí kho trung chuyển và ship nội địa Nhật chia ra mỗi bộ 15.000 đồng.

Mỗi bộ đóng hộp có cân tính cước 0,6 ký; cước quốc tế giả định 200.000 đồng mỗi ký, tức 120.000 đồng mỗi bộ. Thuế và phí khi hàng vào, theo thông tin bên làm thủ tục cho lô này, chia ra mỗi bộ 45.000 đồng (ví dụ giả định, không phải thuế suất thật). Giao nội địa về nhà 5.000 đồng mỗi bộ.

Cộng lại: 300.000 + 6.000 + 15.000 + 120.000 + 45.000 + 5.000 = 491.000 đồng. Dự phòng hao hụt 3 phần trăm: 491.000 × 1,03 ≈ 505.700 đồng. Giá về tay xấp xỉ 506.000 đồng, tức gần gấp 1,7 lần giá trên hoá đơn. Người chỉ nhìn giá trên sàn sẽ tưởng bán 450.000 đồng đã có lãi, trong khi thực tế đang lỗ.

Ví dụ giả định 2: lô giày gom từ outlet Mỹ

Giả định một người quen ở Mỹ mua giúp mười đôi giày ở outlet trong đợt giảm giá cuối năm, mỗi đôi tương đương 900.000 đồng gồm cả thuế bán hàng tại cửa hàng (ví dụ giả định). Bạn chuyển tiền cho người quen qua ngân hàng, phí và chênh lệch tỷ giá tính ra 1,5 phần trăm, khoảng 13.500 đồng mỗi đôi. Phí công thoả thuận 5 phần trăm giá mua, 45.000 đồng mỗi đôi.

Giày để nguyên hộp thì cồng kềnh; mỗi hộp có cân quy đổi theo thể tích 1,8 ký trong khi cân thực chỉ 1,1 ký. Nếu bỏ hộp, gói giày trong túi, cân tính cước còn 1,2 ký. Cước gom hàng giả định 250.000 đồng mỗi ký: để hộp là 450.000 đồng mỗi đôi, bỏ hộp là 300.000 đồng mỗi đôi. Nhưng khách giày chính hãng thường muốn có hộp; bỏ hộp có thể làm giá bán giảm. Đây là quyết định kinh doanh, không chỉ là phép tính.

Giả định giữ hộp, thuế và phí khi hàng vào chia ra mỗi đôi 120.000 đồng (ví dụ giả định), giao nội địa 10.000 đồng. Tổng: 900.000 + 13.500 + 45.000 + 450.000 + 120.000 + 10.000 = 1.538.500 đồng; dự phòng 3 phần trăm thành khoảng 1.585.000 đồng. Cước chiếm gần ba mươi phần trăm giá về tay; đó là lý do hàng cồng kềnh từ thị trường xa cần được tính kỹ trước khi nhận đơn.

Đọc giá về tay bằng tỷ trọng: khoản nào đáng tối ưu

Khi đã có bảng tám khoản, hãy tính tỷ trọng của mỗi khoản trong giá về tay. Ở ví dụ đồ bếp Nhật, giá mua chiếm khoảng sáu mươi phần trăm, cước khoảng hai mươi tư phần trăm, thuế và phí khoảng chín phần trăm, còn lại là phí thẻ, phí kho, giao nội địa và dự phòng. Ở ví dụ giày Mỹ, cước chiếm gần ba mươi phần trăm. Con số tỷ trọng cho biết nỗ lực tối ưu nên đặt vào đâu.

Nếu cước chiếm tỷ trọng lớn, các cách giảm có ý nghĩa là đóng gói gọn để giảm cân quy đổi, gom nhiều đơn vào một kiện, chọn đường gửi chậm hơn cho hàng không gấp. Nếu phí thẻ và chênh lệch ngoại tệ đáng kể, hãy so các phương tiện thanh toán bạn có quyền dùng và đọc kỹ biểu phí. Nếu giá mua chiếm gần hết, chỉ còn cách mua đúng mùa giảm giá hoặc tìm nguồn tốt hơn.

Có một khoản không được đưa vào danh sách tối ưu theo kiểu cắt giảm: thuế và phí khi hàng vào. Khoản này phải được tính đúng theo quy định; cố làm nó nhỏ đi bằng cách khai thấp giá hay khai sai tên hàng là vi phạm và có thể dẫn tới truy thu, xử phạt, mất hàng. Cách hợp lệ duy nhất để giảm phần này là hiểu đúng hàng của mình thuộc mã nào, xuất xứ nào, có được hưởng ưu đãi nào theo quy định không, và hỏi người làm thủ tục có chuyên môn.

Những sai lầm làm giá về tay lệch

Dùng tỷ giá trên mạng thay vì tỷ giá thật bị trừ. Tỷ giá thẻ áp dụng thường khác tỷ giá tham khảo, cộng thêm phí chuyển đổi. Luôn đối chiếu với sao kê.

Chia đều cước cho mọi món. Khi lô có món nặng và món nhẹ, chia đều làm món nhẹ gánh oan, món nặng được tính rẻ. Kết quả là bạn định giá món nặng quá thấp và bán càng nhiều càng lỗ.

Bỏ qua cân quy đổi. Hàng nhẹ mà to bị tính theo thể tích. Cân bằng cân nhà bếp rồi tính cước theo đó là cách tự đánh lừa mình.

Không tính thuế vì "bên vận chuyển bao". Khi bên vận chuyển báo giá trọn gói gồm cả thuế, bạn vẫn cần biết hàng có được khai báo đúng giá trị không. Giá trọn gói thấp bất thường có thể là dấu hiệu khai thấp, và rủi ro bị truy thu, xử phạt có thể quay về người nhận hàng.

Quên chi phí của chính mình. Thời gian đi chợ, đóng gói, chụp ảnh cũng là chi phí. Không cần tính thành tiền ở lô đầu, nhưng nên ghi lại số giờ để biết lô nào đáng công.

Giữ bảng giá về tay sống theo thời gian

Giá về tay không phải con số tính một lần. Tỷ giá đổi, cước đổi theo mùa, phụ phí nhiên liệu lên xuống, mùa giảm giá ở nước nguồn làm giá mua giảm. Người làm bền thường giữ một bảng tính cho từng thị trường, mỗi lô thêm một dòng với số thật, để thấy xu hướng: cước mỗi ký đang tăng hay giảm, tỷ lệ hao hụt thật là bao nhiêu, phí thẻ thực tế ra sao.

Sau năm sáu lô, bảng này trở thành công cụ báo giá nhanh. Khi khách hỏi một món mới, bạn chỉ cần biết giá mua và cân tính cước là ước được giá về tay trong vài phút, đủ để trả lời khách có nhận đơn hay không. Đó là lợi thế mà người mới đánh giá thấp nhưng người bán lâu năm nào cũng có.

Một thói quen nhỏ đáng giữ: sau mỗi lô, so giá về tay dự tính với giá về tay thật. Chênh lệch lớn ở khoản nào thì đó là khoản bạn đang hiểu sai, cần hỏi lại bên vận chuyển hay bên làm thủ tục cho rõ.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao giá về tay lại cao hơn nhiều so với giá mua?

Vì hàng ngoại lô nhỏ phải gánh nhiều chi phí cố định và chi phí theo cân. Với hàng giá thấp, nặng hoặc cồng kềnh, phần cước và phí có thể ngang hoặc hơn giá mua. Đó là lý do hàng nhẹ, nhỏ, giá trị cao thường hợp đi đường xa hơn.

Có nên báo giá cho khách theo giá về tay cộng một tỷ lệ cố định?

Có thể dùng làm điểm khởi đầu, nhưng nên điều chỉnh theo từng món: món dễ bán, ít rủi ro có thể lấy lãi mỏng hơn; món dễ lỗi, cần bảo hành, vòng quay chậm thì cần biên rộng hơn. Một tỷ lệ cố định cho mọi món thường làm món tốt bị đắt, món rủi ro bị rẻ.

Thuế khi hàng vào tính thế nào để đưa vào giá về tay?

Nguyên lý là thuế tính trên trị giá hàng theo quy định, với thuế suất tuỳ mã hàng và xuất xứ. Người bán nhỏ nên lấy số thật từ chứng từ thuế hoặc hỏi bên làm thủ tục trước khi nhận đơn; danh mục vận chuyển và hải quan của trang có bài giải thích thuế tính trên gì.

Tỷ giá biến động thì báo giá cho khách order thế nào?

Nhiều người bán ghi rõ giá báo dựa trên tỷ giá dự tính và chỉ giữ trong một khoảng thời gian, hoặc chừa một khoản dự phòng trong giá. Quan trọng là nói rõ từ đầu cách xử lý khi tỷ giá đổi mạnh, tránh tranh cãi sau.

Tỷ lệ hao hụt nên dự phòng bao nhiêu?

Không có con số chung; phụ thuộc loại hàng, đường gửi và cách đóng gói. Lô đầu dùng một tỷ lệ giả định thận trọng, sau vài lô thay bằng tỷ lệ thật của bạn. Hàng dễ vỡ, hàng có hạn dùng cần dự phòng cao hơn hàng vải, hàng nhựa.

Chi phí chuyến đi có nên tính vào giá về tay không?

Nên, nếu chuyến đi chủ yếu để lấy hàng. Chia chi phí chuyến đi theo giá trị hàng mua, để món đắt gánh nhiều hơn. Nếu chuyến đi chủ yếu vì việc khác, bạn có thể chỉ tính phần phát sinh thêm do lấy hàng, nhưng hãy nhất quán giữa các lô.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.