Rủi ro tỷ giá của người đánh hàng ngoại nằm ở khoảng thời gian giữa lúc đã chốt giá bán bằng tiền đồng với khách và lúc thật sự trả tiền ngoại tệ cho nguồn hàng. Nếu trong khoảng đó ngoại tệ lên giá so với tiền đồng, giá vốn tăng mà giá bán không đổi, phần lời bị ăn mòn. Ngược lại, tỷ giá đi xuống thì người bán được lợi, nhưng không ai lập kế hoạch kinh doanh dựa vào may mắn.
Bài viết không dự báo tỷ giá và không nêu tỷ giá thật nào. Nội dung tập trung vào cách nhận ra mình đang chịu rủi ro tỷ giá ở đâu, đo mức phơi nhiễm bằng phép tính đơn giản, và những cách giảm rủi ro phù hợp với người bán nhỏ: rút ngắn khoảng hở, báo giá có điều kiện, giữ dự phòng, khớp thời điểm thu và chi. Các con số trong bài là ví dụ giả định.
Rủi ro tỷ giá đến từ đâu
Tỷ giá là giá của một đồng tiền tính bằng đồng tiền khác. Nó thay đổi hằng ngày theo cung cầu ngoại tệ, chính sách tiền tệ, dòng thương mại và tâm lý thị trường. Người bán nhỏ không kiểm soát được những yếu tố đó, và cũng không cần dự báo chúng. Điều người bán kiểm soát được là cách sắp xếp thời điểm các khoản thu và chi của mình.
Rủi ro chỉ xuất hiện khi có một khoản cam kết bằng tiền đồng và một khoản cam kết bằng ngoại tệ chưa được thực hiện cùng lúc. Ví dụ: đã nhận cọc và báo giá trọn gói bằng tiền đồng cho khách, nhưng vài tuần sau mới mua hàng bằng yên, won, đô la hay euro. Hoặc ngược lại: đã trả tiền ngoại tệ cho lô hàng có sẵn, nhưng chưa bán được, và giá bán sẽ phải điều chỉnh theo thị trường trong nước.
Cũng cần phân biệt rủi ro tỷ giá với chuyện giá hàng ở nước nguồn thay đổi. Một món tăng giá niêm yết ở Nhật là rủi ro giá, không phải rủi ro tỷ giá, dù cả hai cùng làm giá vốn tính bằng tiền đồng tăng lên. Tách hai thứ này trong sổ giúp người bán biết nên chỉnh chỗ nào: rủi ro giá xử lý bằng cách cập nhật giá bán, rủi ro tỷ giá xử lý bằng cách rút ngắn khoảng hở.
Ngoài tỷ giá thị trường, người bán còn chịu chênh lệch mua vào bán ra của nơi đổi tiền và phí chuyển đổi ngoại tệ của thẻ. Hai khoản này không biến động theo ngày như tỷ giá nhưng luôn có mặt, và đã có bài riêng về đọc sao kê thẻ trong cùng chuyên mục.
Những khoảng hở tỷ giá thường gặp
Mỗi mô hình bán có một khoảng hở khác nhau. Nhận ra khoảng hở của mình là bước đầu tiên.
| Mô hình | Khoảng hở | Ai chịu rủi ro |
|---|---|---|
| Order giá trọn gói, mua sau khi khoá đơn | Từ lúc báo giá tới lúc trả tiền mua hàng, thường vài ngày tới vài tuần | Người bán |
| Order giá tách khoản, giá hàng theo tỷ giá ngày mua | Gần như không có với người bán; khách chịu | Khách |
| Tự đi lấy hàng, đổi tiền trước chuyến đi | Từ lúc đổi tiền tới lúc bán hết hàng; tỷ giá đã chốt nhưng giá bán chưa | Người bán, theo hướng giá bán trong nước |
| Trả bằng thẻ, sao kê về sau | Tỷ giá áp dụng là của ngày tổ chức thẻ xử lý, có thể khác ngày quẹt | Người bán |
| Nhờ người mua hộ ứng tiền rồi thanh toán sau | Từ lúc người mua hộ trả tới lúc người bán chuyển tiền cho họ | Theo thoả thuận; thường một bên chịu mà không biết |
Dòng cuối là nơi hay có tranh cãi nhất: người mua hộ ứng tiền ngày thứ nhất, người bán chuyển trả ngày thứ mười theo tỷ giá ngày thứ mười. Hai bên nên thoả thuận trước dùng tỷ giá ngày nào.
Đo mức phơi nhiễm bằng phép tính đơn giản
Phơi nhiễm là số tiền có thể mất nếu tỷ giá biến động bất lợi một mức nhất định. Ví dụ giả định cho một đợt order hàng Nhật:
- Tổng giá hàng phải mua bằng ngoại tệ, quy ra tiền đồng theo tỷ giá dùng khi báo giá: 50 triệu đồng.
- Khoảng hở dự kiến: ba tuần từ lúc khoá đơn tới lúc trả tiền xong.
- Giả sử trong ba tuần ngoại tệ lên giá 3% so với tiền đồng (ví dụ giả định, không phải dự báo).
- Giá vốn tăng thêm: 50 triệu × 3% = 1,5 triệu đồng.
- So với lợi nhuận dự kiến của đợt, ví dụ 6 triệu đồng: một phần tư lợi nhuận bị mất.
- Nếu biến động là 5%, phần mất là 2,5 triệu đồng, gần một nửa lợi nhuận.
Phép tính cho thấy rủi ro tỷ giá không nằm ở chỗ tỷ giá biến động bao nhiêu, mà ở chỗ biên lợi nhuận của người bán mỏng tới đâu. Biên lợi nhuận càng mỏng, một biến động nhỏ càng đáng kể. Người bán có biên dày có thể chấp nhận khoảng hở dài hơn.
Cách giảm rủi ro phù hợp với người bán nhỏ
Rút ngắn khoảng hở. Mua hàng ngay sau khi khoá đơn thay vì để vài tuần; với đợt sale, chuẩn bị tiền sẵn để trả ngay khi mua. Khoảng hở càng ngắn, biến động có thể xảy ra càng ít.
Báo giá có điều kiện. Với hàng giá trị cao, báo giá theo ngoại tệ kèm tỷ giá áp dụng ngày mua, hoặc báo trọn gói kèm điều khoản điều chỉnh khi tỷ giá biến động quá một ngưỡng. Phải được nói rõ và khách đồng ý trước khi cọc.
Giữ dự phòng tỷ giá. Cộng một biên nhỏ vào tỷ giá dùng để báo giá. Biên này không phải đoán tỷ giá đi lên, mà là tấm đệm cho khoảng hở. Ghi phần chênh nhận được vào quỹ dự phòng, không tiêu như lợi nhuận.
Khớp thời điểm thu và chi. Thu đủ tiền của khách trước khi mua hàng với đơn giá trị cao; như vậy người bán có tiền đồng sẵn để đổi đúng lúc trả, không phải ứng vốn.
Đổi tiền theo đợt nhỏ. Với chuyến đi lấy hàng, đổi một phần trước, phần còn lại dùng thẻ hoặc đổi tại chỗ, để không dồn toàn bộ vào một thời điểm.
Những điều không nên làm
Không đầu cơ tỷ giá bằng tiền hàng. Giữ ngoại tệ chờ "tỷ giá tốt hơn" rồi mới mua hàng, hay đổi nhiều ngoại tệ trước vì nghĩ tỷ giá sẽ tăng, là biến việc kinh doanh hàng hoá thành việc đoán tỷ giá. Người bán nhỏ không có lợi thế thông tin nào trong việc đó.
Không dùng các kênh đổi tiền, chuyển tiền không chính thức chỉ vì tỷ giá trông tốt hơn. Kênh không chính thức có rủi ro pháp lý và rủi ro mất tiền, đã nói trong bài về các kênh trả tiền cho nguồn hàng nước ngoài. Một chênh lệch nhỏ về tỷ giá không bù được rủi ro đó.
Không âm thầm đẩy phần chênh tỷ giá sang khách sau khi đã chốt giá trọn gói. Nếu muốn khách chia rủi ro, phải nói từ đầu. Đòi thêm tiền sau khi đã báo giá trọn gói là lý do phổ biến khiến khách mất lòng tin, dù số tiền không lớn.
Ghi chép để biết mình đang thắng hay thua tỷ giá
Với mỗi đợt, ghi hai con số: tỷ giá dùng để báo giá, và tỷ giá thực tế đã trả, tính bằng số tiền đồng trên sao kê hoặc chứng từ chia cho số ngoại tệ. Chênh lệch giữa hai con số nhân với tổng ngoại tệ là phần lời hoặc lỗ do tỷ giá của đợt đó.
Sau mười, hai mươi đợt, người bán có bức tranh thật: trung bình mình mất hay được bao nhiêu vì tỷ giá, biên dự phòng đang đặt có đủ hay thừa. Nếu thừa nhiều, có thể giảm biên để giá bán cạnh tranh hơn; nếu thiếu, cần tăng biên hoặc rút ngắn khoảng hở.
Ghi chép cũng giúp tách bạch nguồn lời lỗ. Một đợt lỗ có thể do tỷ giá, do phí gửi tăng, do hàng hỏng. Không tách, người bán sẽ đổ cho tỷ giá mọi khoản lỗ, trong khi nguyên nhân thật nằm ở vận hành.
Ví dụ giả định: sau mười đợt, tổng chênh tỷ giá là lỗ 2 triệu đồng, trong khi quỹ dự phòng tỷ giá đã trích 3 triệu đồng. Biên dự phòng đang hơi dư; người bán có thể giữ nguyên để an toàn, hoặc giảm nhẹ ở các đợt có khoảng hở ngắn.
Tỷ giá khi tự đi lấy hàng
Với chuyến đi lấy hàng tận nơi, rủi ro tỷ giá có hình dạng khác. Người bán thường đổi tiền trước chuyến đi, tức là đã chốt tỷ giá cho phần lớn vốn. Rủi ro lúc này nằm ở phía bán: nếu tiền đồng mất giá mạnh trong lúc hàng chưa bán hết, giá vốn tính theo tiền đồng không đổi nhưng giá thị trường của hàng ngoại trong nước có thể nhích lên; ngược lại nếu tiền đồng lên giá, hàng cùng loại do người khác nhập sau sẽ rẻ hơn.
Cách giảm rủi ro với chuyến đi là không ôm quá nhiều hàng chưa có khách, kết hợp một phần order trước chuyến đi với một phần hàng có sẵn. Phần order đã có giá bán chốt, phần có sẵn được bán dần theo giá thị trường. Kết hợp như vậy làm rủi ro hai chiều bù trừ phần nào cho nhau.
Rủi ro tỷ giá theo từng kiểu thanh toán
Mỗi cách trả tiền cho nguồn hàng chốt tỷ giá ở một thời điểm khác nhau. Biết thời điểm chốt giúp người bán biết khoảng hở thật của mình:
- Tiền mặt đổi trước chuyến đi: tỷ giá chốt ngày đổi tiền. Khoảng hở với giá bán bắt đầu từ ngày đó.
- Thẻ quốc tế: tỷ giá chốt theo ngày tổ chức thẻ xử lý giao dịch, thường sau ngày quẹt một chút; phí chuyển đổi cộng thêm.
- Chuyển khoản ngân hàng ra nước ngoài: tỷ giá chốt ngày ngân hàng thực hiện lệnh; có thể có thêm phí của ngân hàng trung gian.
- Chuyển tiền cho người mua hộ: tỷ giá phụ thuộc kênh và ngày chuyển; nếu người mua hộ ứng trước, có hai thời điểm chốt khác nhau.
- Ví, cổng thanh toán quốc tế: tỷ giá và phí theo chính sách của bên cung cấp, có khi kém hơn thẻ; đọc kỹ trước khi dùng cho lô lớn.
Không có cách nào luôn tốt nhất. Chọn kênh trước hết theo độ an toàn và khả năng khiếu nại, sau đó mới tới tỷ giá và phí. Một chênh lệch tỷ giá nhỏ không đáng để đổi lấy một kênh không có đường đòi lại tiền.
Câu hỏi thường gặp
Người bán nhỏ có nên dùng công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá của ngân hàng không?
Các công cụ như hợp đồng kỳ hạn thường dành cho doanh nghiệp có giao dịch ngoại tệ thường xuyên và đủ điều kiện theo quy định. Với người bán nhỏ, các cách vận hành như rút ngắn khoảng hở, báo giá có điều kiện, giữ dự phòng thường phù hợp hơn. Hỏi ngân hàng nếu bạn là doanh nghiệp có nhu cầu thật.
Có nên giữ sẵn ngoại tệ để mua hàng dần không?
Giữ một lượng nhỏ để thanh toán đơn đã có khách là hợp lý. Giữ nhiều để chờ tỷ giá có lợi là đầu cơ, không phải kinh doanh hàng hoá. Việc nắm giữ, mua bán ngoại tệ của cá nhân cũng có quy định riêng, cần kiểm theo quy định hiện hành.
Tỷ giá trên sao kê thẻ khác tỷ giá lúc quẹt, vì sao?
Tổ chức thẻ quy đổi theo tỷ giá của ngày họ xử lý giao dịch, không nhất thiết trùng ngày quẹt, rồi ngân hàng phát hành cộng phí chuyển đổi. Vì thế giá vốn nên tính theo số tiền trên sao kê, không theo tỷ giá nhìn thấy lúc mua.
Khi tỷ giá giảm, có nên giảm giá bán cho khách đã chốt không?
Không bắt buộc với giá trọn gói, vì người bán đã chấp nhận chịu biến động cả hai chiều. Nhưng nếu biến động lớn và đều đặn, khách sẽ thấy giá của bạn cao hơn mặt bằng ở các đợt sau; hãy điều chỉnh giá cho đợt mới.
Đặt biên dự phòng tỷ giá bao nhiêu?
Không có con số chung. Dựa vào độ dài khoảng hở và mức biến động bạn đã ghi nhận ở các đợt trước. Biên phải đủ bù phần lớn biến động bất lợi mà không đẩy giá bán quá cao.
Thoả thuận tỷ giá với người mua hộ thế nào cho công bằng?
Chọn trước một quy tắc: dùng tỷ giá trên chứng từ thanh toán thật của người mua hộ, hoặc tỷ giá của một nguồn công bố cố định vào ngày mua. Ghi bằng tin nhắn trước khi họ ứng tiền.