Một báo giá chuyển hàng Thái Lan về Việt Nam thường không chỉ có một con số cước cho mỗi cân. Phía sau con số đó là cách tính cân (cân thực hay cân quy đổi theo thể tích), cách làm tròn, các phụ phí như nhiên liệu, đóng gói, lấy hàng, hàng đặc biệt, phần thuế và phí khai báo có nằm trong giá hay không, và phí giao từ kho tới tay bạn ở Việt Nam. Hai báo giá có cùng "cước mỗi cân" có thể cho ra tổng tiền rất khác nhau.
Bài này đi qua từng dòng hay gặp, cách tự tính cân quy đổi, và cách so hai báo giá bằng một kiện hàng giả định giống nhau. Mọi con số trong bài là ví dụ giả định để minh hoạ cách tính, không phải giá thật của bên nào. Trang không nhận chuyển hàng và không giới thiệu đơn vị vận chuyển.
Các dòng hay có trong một báo giá
Không phải báo giá nào cũng ghi đủ các dòng dưới đây. Dòng nào không thấy, hãy hỏi: khoản đó đã gồm trong cước, tính riêng, hay bạn tự lo.
| Khoản | Thường tính theo | Câu nên hỏi |
|---|---|---|
| Cước chính | Mỗi cân, theo bậc khối lượng | Tính theo cân thực hay cân quy đổi, lấy số nào lớn hơn? Bậc khối lượng chia thế nào? |
| Phụ phí nhiên liệu | Phần trăm trên cước, thay đổi theo kỳ | Đã gồm trong cước chưa? Thay đổi bao lâu một lần? |
| Lấy hàng tại Thái | Mỗi lần lấy hoặc theo khu vực | Có lấy tại chợ, tại khách sạn không? Phí bao nhiêu? |
| Đóng gói, gia cố | Mỗi kiện hoặc theo vật tư | Hàng đóng sẵn có phải đóng lại không? Có quay video lúc đóng không? |
| Khai báo, thông quan | Mỗi lô hoặc mỗi tờ khai | Ai khai báo? Bạn nhận chứng từ gì? |
| Thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng | Theo trị giá và mã hàng, theo quy định hiện hành | Đã gồm trong giá chưa? Nếu gồm thì có biên lai thuế không? |
| Giao nội địa ở Việt Nam | Theo cân hoặc theo kiện, theo tỉnh | Giao tận nơi hay nhận ở kho? Giao tỉnh tính thế nào? |
| Bảo hiểm hàng | Phần trăm trên giá trị khai | Bồi thường thế nào khi mất, hỏng? Có cần mua không? |
| Lưu kho | Mỗi ngày quá hạn miễn phí | Được để miễn phí bao nhiêu ngày ở hai đầu? |
| Phụ phí hàng đặc biệt | Mỗi kiện hoặc mỗi cân | Hàng có pin, chất lỏng, cồng kềnh, dễ vỡ tính thêm gì? |
Đọc xong bảng, bạn sẽ thấy "cước rẻ" ở dòng đầu chưa nói được gì. Một bên ghi cước thấp nhưng tính riêng năm sáu khoản; bên khác ghi cước cao hơn nhưng đã gồm gần hết. Chỉ khi cộng đủ mới so được.
Cân thực và cân quy đổi theo thể tích
Phương tiện chở hàng bị giới hạn bởi cả khối lượng lẫn thể tích. Một kiện chăn bông nhẹ nhưng to chiếm chỗ bằng một kiện sắt nặng gấp nhiều lần. Vì vậy bên vận chuyển, nhất là đường bay, tính cân quy đổi theo thể tích và thu cước theo số lớn hơn giữa cân thực và cân quy đổi.
Cách tính phổ biến: nhân chiều dài × chiều rộng × chiều cao của kiện (đơn vị xăng-ti-mét), rồi chia cho một hệ số do bên vận chuyển quy định. Với hàng bay, các hệ số thường gặp là 5.000 hoặc 6.000; đường bộ và đường biển có cách quy đổi khác. Hệ số càng nhỏ thì cân quy đổi càng lớn, nên đây là con số phải hỏi rõ, không phải chi tiết kỹ thuật bỏ qua được.
Ví dụ giả định: một thùng quần áo kích thước 60 × 40 × 40 cm, cân thực 8 kg. Thể tích là 96.000 cm³. Chia cho 5.000 được 19,2 kg; chia cho 6.000 được 16 kg. Cả hai đều lớn hơn 8 kg, nên bạn bị tính cước theo 19,2 kg hoặc 16 kg tuỳ hệ số, gấp đôi cân thực. Nếu cùng số quần áo đó được gấp chặt, hút bớt khí, đóng vào thùng 50 × 40 × 30 cm (60.000 cm³), cân quy đổi theo hệ số 5.000 chỉ còn 12 kg.
Bài học rút ra: với hàng nhẹ mà to, cách đóng gói quyết định tiền cước nhiều hơn mức cước mỗi cân. Với hàng nặng mà gọn như đồ khô đóng hộp, đồ kim loại, cân thực thường lớn hơn và cân quy đổi ít ảnh hưởng.
Làm tròn, cước tối thiểu và bậc khối lượng
Làm tròn. Nhiều bên làm tròn lên theo bước 0,5 kg hoặc 1 kg. Kiện 10,1 kg có thể bị tính 10,5 kg hoặc 11 kg. Với nhiều kiện nhỏ, phần làm tròn cộng lại thành con số đáng kể; gộp kiện hợp lý giúp giảm phần này.
Cước tối thiểu. Một lô quá nhỏ có thể bị tính theo mức tối thiểu, dù cân thực thấp hơn. Nếu bạn chỉ gửi vài món hàng mẫu, hãy hỏi mức tối thiểu trước để quyết định gửi riêng hay gộp với lô sau.
Bậc khối lượng. Cước mỗi cân thường giảm khi lô lớn hơn, theo bậc. Đọc kỹ bậc: lô của bạn nằm sát ngưỡng thì thêm vài cân hàng có khi tổng tiền gần như không đổi, nhưng ngược lại cũng có khi vượt ngưỡng chẳng được lợi gì.
Tính theo kiện hay theo lô. Có bên tính cân quy đổi cho từng kiện rồi cộng lại, có bên tính cho cả lô. Cách tính khác nhau có thể làm tổng cân chênh nhau, nhất là khi lô có cả kiện nặng gọn lẫn kiện nhẹ to.
Đơn vị tiền. Báo giá có thể ghi bằng tiền Việt, tiền Thái hoặc đô la. Khi so, quy về một đơn vị, và hỏi tỷ giá áp dụng lấy theo thời điểm nào.
"Trọn gói" và "đã gồm thuế" nghĩa là gì
Nhiều báo giá ghi "trọn gói" hoặc "đã gồm thuế". Với người bán nhỏ, hai chữ này dễ hiểu nhầm thành "không phải lo gì nữa". Thực tế, "trọn gói" thường nghĩa là bên vận chuyển thu một khoản bao gồm cước, khai báo và thuế, rồi tự làm phần thủ tục. Điều bạn cần hỏi là: thủ tục đó có được làm đúng không, hàng có được khai đúng tên và đúng trị giá không, và bạn nhận được chứng từ gì để chứng minh hàng đã nhập hợp pháp.
Thuế nhập khẩu và thuế giá trị gia tăng tính trên trị giá hàng và mã hàng, theo quy định hiện hành. Một báo giá "bao thuế" mà mức thu thấp bất thường so với giá trị hàng, hoặc không đưa được biên lai, tờ khai, là dấu hiệu hàng có thể đã được khai thấp, khai sai tên, hoặc đi kênh không chính thức. Khi có kiểm tra, người đang giữ và bán hàng là bạn, không phải bên vận chuyển.
Ngược lại, một báo giá ghi "chưa gồm thuế, thuế tính theo thực tế khi thông quan" có thể làm tổng tiền ban đầu trông cao hơn hoặc khó đoán hơn, nhưng minh bạch hơn. Bạn biết mình trả bao nhiêu thuế và có chứng từ đi kèm.
Danh mục vận chuyển, hải quan và thuế của trang có bài riêng giải thích thuế tính trên gì và vì sao khai thấp là sai. Ở đây chỉ cần nhớ: giá rẻ do khai sai không phải là giá rẻ, mà là rủi ro được trả chậm.
So hai báo giá bằng một kiện giả định
Cách so công bằng nhất là lấy một kiện hàng giả định giống nhau rồi tính tổng theo từng báo giá. Ví dụ giả định dưới đây dùng "đơn vị tiền" thay cho số tiền thật: một thùng 60 × 40 × 40 cm, cân thực 8 kg, giao tận nơi ở TP.HCM.
| Khoản | Báo giá A | Báo giá B |
|---|---|---|
| Cách tính cân | Hệ số 6.000 ⇒ 16 kg | Hệ số 5.000 ⇒ 19,2 kg, làm tròn 19,5 kg |
| Cước mỗi cân | 10 đơn vị | 9 đơn vị |
| Cước chính | 160 đơn vị | 175,5 đơn vị |
| Phụ phí nhiên liệu | Đã gồm | 10% cước ⇒ 17,6 đơn vị |
| Lấy hàng tại chợ | 15 đơn vị | Miễn phí |
| Giao nội địa | Đã gồm | 12 đơn vị |
| Tổng chưa thuế | 175 đơn vị | 205,1 đơn vị |
Báo giá B ghi cước mỗi cân thấp hơn, nhưng tổng lại cao hơn vì hệ số quy đổi nhỏ hơn, có làm tròn và tính riêng nhiên liệu, giao nội địa. Với kiện nặng gọn (cân thực lớn hơn cân quy đổi), kết quả có thể đảo ngược. Vì vậy nên so bằng chính kiểu hàng bạn hay gửi.
Ngoài tổng tiền, cột so sánh nên có thêm: thời gian dự kiến, cách xử lý khi mất hoặc hỏng, và chứng từ bạn nhận được.
Những câu nên hỏi trước khi gửi lô đầu tiên
Gửi tin nhắn hỏi trước và lưu lại câu trả lời. Đây vừa là thông tin để so, vừa là bằng chứng khi có tranh chấp.
- Cân quy đổi tính theo hệ số nào, làm tròn thế nào, tính theo kiện hay theo lô?
- Những khoản nào đã gồm trong cước, những khoản nào tính riêng?
- Ai khai báo hải quan, khai theo tên ai, bạn nhận được chứng từ gì?
- Thuế có gồm trong giá không; nếu có, có biên lai hoặc tờ khai không?
- Hàng có pin, chất lỏng, bình xịt, nước hoa có nhận không, đi đường nào?
- Thời gian dự kiến, và chuyện gì xảy ra khi chậm quá thời gian đó?
- Mất kiện, vỡ hàng thì bồi thường theo cách nào, có giới hạn không?
- Hàng được để miễn phí ở kho bao nhiêu ngày?
- Báo giá có hiệu lực tới khi nào, phụ phí nhiên liệu đổi theo kỳ nào?
Một bên vận chuyển làm ăn đàng hoàng thường trả lời được các câu này rõ ràng. Câu trả lời né tránh, nhất là ở phần khai báo và chứng từ, đáng để bạn cân nhắc lại.
Báo giá chuyển hàng nằm ở đâu trong giá về tay
Cước chuyển hàng chỉ là một phần của giá về tay. Giá về tay của một sản phẩm gồm: giá mua tại Thái, phần chia của chi phí chuyến đi (vé, chỗ ở, đi lại), phí chuyển tiền và phí chuyển đổi ngoại tệ, cước chuyển hàng cùng các phụ phí, thuế và phí thông quan, phí giao nội địa, cộng một khoản dự phòng cho hàng lỗi, hàng thiếu. Khi đã có tổng tiền của báo giá, chia cho số sản phẩm trong lô để biết mỗi sản phẩm gánh bao nhiêu tiền cước.
Ví dụ giả định: lô 100 chiếc áo, tổng tiền chuyển hàng theo báo giá A là 175 đơn vị, mỗi chiếc gánh 1,75 đơn vị. Nếu mỗi chiếc mua giá 20 đơn vị, riêng cước đã cộng gần 9% vào giá vốn. Với hàng nhẹ, rẻ tiền mà to, tỉ lệ này có thể cao hơn nhiều, có khi cước gần bằng tiền hàng. Đó là lúc cần cân nhắc đóng gói lại, đổi đường gửi hoặc bỏ mặt hàng đó khỏi danh sách.
Ghi tỉ lệ cước trên giá trị hàng của từng lô vào sổ. Con số này cho bạn biết nhóm hàng nào "chịu cước" tốt, nhóm nào không, và là cơ sở để thương lượng hoặc đổi bên vận chuyển.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao hàng chỉ nặng 8 kg mà bị tính cước 16 kg?
Vì kiện hàng to so với khối lượng, bên vận chuyển tính theo cân quy đổi từ thể tích (dài × rộng × cao chia cho một hệ số) và lấy số lớn hơn. Gấp hàng chặt, chọn thùng vừa khít giúp giảm cân quy đổi đáng kể với hàng nhẹ.
Hệ số quy đổi 5.000 và 6.000 khác nhau thế nào?
Cùng một kiện, chia cho 5.000 sẽ ra cân quy đổi lớn hơn chia cho 6.000. Ví dụ giả định thùng 96.000 cm³ ra 19,2 kg hoặc 16 kg. Vì vậy hai báo giá có cùng cước mỗi cân vẫn có thể chênh tổng tiền nếu dùng hệ số khác nhau.
Báo giá ghi bao thuế thì có yên tâm không?
Chưa chắc. Hãy hỏi hàng được khai theo tên ai, khai đúng trị giá không, và bạn nhận biên lai thuế hay tờ khai gì. Mức bao thuế thấp bất thường so với giá trị hàng, hoặc không có chứng từ, là dấu hiệu rủi ro mà người bán hàng sẽ gánh khi bị kiểm tra.
Có nên mua bảo hiểm cho lô hàng nhỏ không?
Tuỳ giá trị lô và mức bồi thường mặc định của bên vận chuyển. Nhiều bên chỉ bồi thường giới hạn khi không mua bảo hiểm. Hỏi rõ mức bồi thường mặc định, so với giá trị hàng, rồi quyết định. Hàng dễ vỡ, giá trị cao thường đáng mua.
Phụ phí nhiên liệu là gì, sao lúc có lúc không?
Là khoản bên vận chuyển thu thêm để bù biến động giá nhiên liệu, thường tính theo phần trăm cước và điều chỉnh theo kỳ. Có bên gộp vào cước, có bên tách riêng. Khi so báo giá, kiểm xem khoản này đã gồm chưa và áp dụng cho kỳ nào.
Làm sao biết báo giá nào thật sự rẻ hơn?
Lấy một kiện điển hình bạn hay gửi, tính tổng theo từng báo giá với đủ mọi khoản: cước theo cân quy đổi, làm tròn, phụ phí, lấy hàng, giao nội địa, thuế. Thêm thời gian và cách bồi thường vào bảng so. Tổng thấp nhất kèm chứng từ rõ ràng mới là rẻ.